Lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội

Cách đây vài tháng, có người giả dạng là người nước ngoài, làm quen, kết bạn với tôi, xong nói gửi quà từ Mỹ về cho tôi. Sau đó, có nhân viên bưu cục gọi tôi, bảo tôi phải thanh toán thuế thì mới nhận được bưu kiện. Tôi biết bị lừa nên tôi không gửi tiền vào tài khoản của họ yêu cầu. Gần đây, cũng có người lại giả dạng và sử dụng thủ đoạn tương tự để lừa đảo. Tôi muốn trình báo cơ quan công an để ngăn ngừa hành vi của bọn chúng có được không?

Văn phòng luật sư Đồng Đội trả lời bạn như sau:

Theo quy định tại Điều 101 của Bộ luật tố tụng hình sự thì “Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác. Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản”. Theo đó, bạn hoàn toàn có thể tố giác hành vi lừa đảo của nhóm người trên. Trong đơn tố giác, bạn cần trình bày rõ nội dung sự việc và gửi kèm các bằng chứng chứng minh nội dung tố cáo là có cơ sở (nội dung tin nhắn trên điện thoại, qua facebook, số điện thoại, địa chỉ facebook…).

Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tùy tính chất, mức độ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự hoặc xử lý hành chính theo quy định của Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Cụ thể:

– Theo quy định tại Điều 139 của Bộ luật hình sự, người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu phạm tội thuộc quy định tại khoản 1 Điều 139 sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Phạm tội thuộc quy định tại khoản 2 Điều 139 sẽ bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm. Phạm tội thuộc quy định tại khoản 3 Điều 139 sẽ bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm. Phạm tội thuộc quy định tại khoản 4 Điều 139 sẽ bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

– Trường hợp chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đó sẽ bị xử lý hành chính theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Theo đó, người có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

You might also like
  1. Hà Nguyễn says

    Vui lòng cho e hỏi
    Em bị lừa mất 5.200.000 do đối tượng bảo chuyển tiền mua hàng ( đã gửi địa chỉ và số đt cho đối tượng)
    Sau khi chuyển xong thì tài khoản bị vô hiệu hoá không còn truy cập được, nhờ người thân tìm nhưng không ra đối tượng
    Nên đã tìm bằng cách nhập số tài khoản đã chuyển, phát hiện có rất nhiều bạn khác bị lừa tiền và báo mất tài khoản face book sau khi giao dịch chuyển khoản
    Cho em hỏi phải làm thế nào?
    Trân trọng cám ơn

Leave A Reply

Your email address will not be published.